Kết quả thực hiện Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và định hướng Chiến lược đến năm 2030

Kết quả thực hiện Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và định hướng Chiến lược đến năm 2030

KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC ĐẾN NĂM 2020,

TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC ĐẾN NĂM 2030

TS. HOÀNG THỊ THANH NHÀN, ThS. TRẦN TRỌNG ANH TUẤN

            ThS. TẠ THỊ KIỀU ANH, ThS. LÊ NGỌC HƯNG

   Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học

                     PGS. TS. HỒ THANH HẢI   

         Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

 

Ngày 31 tháng 7 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1250/TTg-CP phê duyệt Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (sau đây gọi tắt là Quyết định số 1250/QĐ-TTg), trong đó đề ra 05 quan điểm, các mục tiêu (tổng quát và cụ thể) đến năm 2020; 05 nhóm nhiệm vụ chủ yếu về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học, 05 nhóm giải pháp tổng thể. Tại Quyết định số 1250/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ cũng đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường giúp Thủ tướng Chính phủ chủ trì, điều phối, thống nhất tổ chức thực hiện Chiến lược, tổ chức tổng kết việc thực hiện Chiến lược vào cuối năm 2020.

Sau hơn 07 năm thực hiện, kể từ khi ban hành Quyết định số 1250/QĐ-TTg, Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đã được tổ chức thực hiện rộng rãi trên quy mô toàn quốc và đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận.

Một số kết quả chủ yếu của việc thực hiện Chiến lược

Về bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên: Đến năm 2020, diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên trên cạn (rừng đặc dụng) là 2.303.961 ha, chiếm khoảng 7,0% diện tính lãnh thổ trên lục địa; 10 khu bảo tồn biển đã được thành lập và 02 khu đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết với tổng diện tích là 20.472,93 ha, chiếm 0,185% diện tích vùng biển Việt Nam; độ che phủ rừng đạt 42,01%; có 235.569 ha rừng trên đất ngập nước; đã phục hồi được 35.237 ha rừng tự nhiên và rừng trồng; 09 khu Ramsar, 09 khu Dự trữ sinh quyển thế giới, 10 Vườn di sản ASEAN được thế giới công nhận với tổng diện tích 4.856.974 ha. Trong giai đoạn thực hiện Chiến lược đến năm 2020, đã thành lập mới 09 khu bảo tồn (04 Khu bảo tồn đất ngập nước, 03 khu bảo tồn trong hệ thống rừng đặc dụng, 02 khu bảo tồn biển), nâng tổng số khu bảo tồn hiện có lên 176 khu với tổng diện tích 2.512.530,78 ha; xây dựng 03 hành lang đa dạng sinh học tại các tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên-Huế và Quảng Trị với tổng diện tích 521.878,28 ha.

Diện tích đất rừng đặc dụng và đất rừng phòng hộ được trồng rừng mới trong giai đoạn 2014 – 2019 là 57.481,8 ha; trong đó có 25.000 ha rừng phòng hộ ven biển. Đã xây dựng và thực hiện các đề án quản lý và bảo vệ môi trường các lưu vực sông lớn; 74 vùng đất ngập nước quan trọng cấp quốc tế, quốc gia được lập danh sách chi tiết và xây dựng bộ cơ sở dữ liệu về đất ngập nước với bản đồ phân bố chi tiết. Đã có các hoạt động phục hồi rạn san hô: trồng được hơn 6 nghìn tập đoàn san hô tại khu vực Bãi Xếp, Hòn Lao, Bãi Tra, Bãi Nần, Bãi Bắc thuộc Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm…

Về bảo tồn các loài hoang dã: Trong thời kỳ thực hiện Chiến lược không có loài nào bị ghi nhận tuyệt chủng; số lượng đàn và cá thể một số loài linh trưởng tăng và phân bố rộng hơn; 02 cá thể Rùa Hồ Gươm đã được ghi nhận ở hồ Đồng Mô, Hà Nội;

Trong giai đoạn 2010 -2020, đã thống kê có 01 họ, 5 giống/chi mới và 606 loài và phân loài sinh vật mới cho khoa học được các nhà khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam công bố trong các tạp chí khoa học có uy tín trên thế giới và Tạp chí Sinh học của Viện Hàn lâm.

Danh lục các loài nguy cấp được định kỳ cập nhật. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Chính phủ về sửa đổi Điều 7 Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, trong đó cập nhật, bổ sung bao gồm 96 loài động vật và 28 loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Công tác bảo tồn tại chỗ loài nguy cấp được tăng cường với việc ban hành các Kế hoạch/Chương trình bảo tồn loài trĩ sao, các loài voi, linh trưởng, hổ, rùa; thành lập các KBT loài sinh cảnh voi, sao la, sâm ngọc linh… Phát triển nuôi trồng bảo tồn các loài nguy cấp, quý hiếm và có giá trị kinh tế để phục hồi, tái thả vào thiên nhiên như hươu sao (Cervus nippon), cá sấu nước ngọt (Crocodylus siamensis), sâm ngọc linh (Panax vietnamensis), cá anh vũ (Semilabeo obscurus), cá lăng (Hemibagrus guttatus)…

Công tác bảo tồn, tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích: Đã thu thập và lưu giữ 88.968 mẫu giống nguồn gen, gồm 45.970 nguồn gen của trên 500 loài cây trồng nông nghiệp; 3.727 nguồn gen cây lâm nghiệp; lập danh mục và lưu giữ 2.998 loài cây thuốc cần bảo tồn trong số 6.784 loài cây thuốc đã biết; Đã phát hiện thêm 55 giống vật nuôi đưa số lượng bảo tồn ở các cấp lên đến 887 giống vật nuôi (23 giống được đưa vào danh sách giống được phép kinh doanh và sản xuất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) và 207 giống thủy sản, 31.393 chủng vi sinh vật được lưu giữ bảo quản dưới dạng các bộ sưu tập theo 4 phương pháp khác nhau. Công tác thu thập, lưu giữ bảo tồn nguồn gen được thực hiện hàng năm và tăng đáng kể về số lượng nguồn gen/mẫu giống được lưu giữ, phân tích, đánh giá và chia sẻ sử dụng.

Cơ chế quản lý tiếp cận nguồn gen, chia sẻ lợi ích và bảo vệ nguồn gen, tri thức truyền thống về nguồn gen đã được thiết lập và tổ chức thực hiện phù hợp với yêu cầu của Nghị định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích.

Sử dụng bền vững dịch vụ hệ sinh thái: Công tác sử dụng bền vững và thực hiện cơ chế chia sẻ hợp lý lợi ích từ dịch vụ hệ sinh thái và ĐDSH đã có những thành quả nhất định, đặc biệt, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã gặt hái được nhiều thành công trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường. Doanh thu từ Chi trả dịch vụ môi trường rừng hiện chiếm 22% tổng mức đầu tư hàng năm của toàn xã hội trong ngành lâm nghiệp. Tính đến nay, số tiền thu được từ các bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng đã được chi trả cho hộ gia đình và cộng đồng tham gia và tái đầu tư vào hoạt động bảo vệ và phát triển rừng.

Kiểm soát các tác động tới đa dạng sinh học: đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện công tác kiểm soát chặt chẽ các hoạt động chuyển đổi mục đích sử dụng đất, mặt nước, phương thức canh tác, khai thác kém bền vững và các hoạt động gây ô nhiễm môi trường như bác bỏ các dự án chuyển đổi sử dụng đất có rừng tự nhiên, quy định danh mục khu vực cấm khai thác thủy sản có thời hạn với 47 khu vực cấm trên các loại hình thủy vực ven biển và nội địa. Đồng thời, các Bộ ngành liên quan đã xây dựng và thực hiện cơ chế phối hợp liên ngành giữa các lực lượng cảnh sát môi trường, quản lý thị trường, hải quan, kiểm lâm, kiểm ngư, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển trong việc phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi khai thác, buôn bán, tiêu thụ trái phép động, thực vật hoang dã; cũng như triển khai các chiến dịch truyền thông trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về pháp luật bảo vệ các loài hoang dã và kêu gọi không tiêu thụ trái phép các loài động, thực vật hoang dã, ngăn ngừa và kiểm soát các loài ngoại lai xâm hại.

                                                                                                                      

Những tồn tại, hạn chế: Một số mục tiêu định lượng của Chiến lược đến năm 2020 chưa đạt được, như tỉ lệ diện tích khu bảo tồn trên cạn so với diện tích lãnh thổ mới đạt được 7,1% so với mục tiêu đề ra 9%, tỉ lệ diện tích các khu bảo tồn biển so với diện tích vùng biển mới đạt được 0,185% so với mục tiêu đề ra là 0,24%…; đa dạng sinh học vẫn tiếp tục bị suy giảm về chất lượng thể hiện ở 03 cấp độ hệ sinh thái, loài và nguồn gen; số lượng các loài nguy cấp, các loài bị đe dọa tăng lên; nhiều hành lang đa dạng sinh học kết nối các khu bảo tồn theo quy hoạch chưa được xây dựng; các khu vực ngoài khu bảo tồn có giá trị đa dạng sinh cao chưa được xác định để có kế hoạch quản lý phù hợp; hiệu quả quản lý khu bảo tồn chưa đáp ứng được yêu cầu, còn xảy ra nhiều vụ khai thác trái phép gỗ và săn bắt động vật hoang dã; việc thực thi pháp luật đa dạng sinh học chưa hiệu quả, tình trạng buôn bán trái phép các loài động vật, thực vật hoang dã và các sản phẩm của chúng vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp; việc ngăn chặn sự du nhập các loài ngoại lai xâm hại và biện pháp kiểm soát sự lan rộng và tác động của chúng chưa được hiệu quả; thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về đa dạng sinh học còn phân tán và chưa được xây dựng đồng bộ.

Định hướng xây dựng Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Bộ Tài nguyên và Môi trường hiện nay đang thực hiện nhiệm vụ xây dựng Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (gọi tắt là Chiến lược 2030). Đây là một văn bản quan trọng định hướng cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học trong thời gian tới.

Chiến lược 2030 được xây dựng cần bám sát tình hình thực tiễn và khắc phục những tồn tại, hạn chế của việc triển khai Chiến lược 2030, đồng thời phù hợp với các yêu cầu đề ra tại Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15 tháng 01 năm 2019 của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế; Nghị quyết số 24-NQ/TW, Kết luận số 56-KL/TW ngày 23 tháng 8 năm 2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 Khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, Nghị quyết số 05/NQ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 01 năm 2021 phê duyệt chủ trương Việt Nam ủng hộ Cam kết của các nhà lãnh đạo thế giới về Thiên nhiên nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh về Đa dạng sinh học trong khuôn khổ Khóa họp lần thứ 75 của Đại hội đồng Liên hợp quốc.

Việc xây dựng Chiến lược 2030 cũng tính đến các yêu cầu hội nhập quốc tế trong bối cảnh đa dạng sinh học đang bị suy thoái trên quy mô toàn cầu và cộng đồng thế giới đang đặt ra các mục tiêu tham vọng để bảo vệ, phục hồi đa dạng sinh học trong các mục tiêu thiên niên kỷ, khung toàn cầu về đa dạng sinh học sau 2020, các ràng buộc về bảo tồn đa dạng sinh học trong các hiệp định quốc tế về môi trường, thương mại…

Về quan điểm, Chiến lược 2030 cần xác định: 1) Đa dạng sinh học là vốn tự nhiên quan trọng – nền tảng để bảo đảm phát triển bền vững đất nước; bảo tồn đa dạng sinh học là một trong các giải pháp then chốt nhằm thích ứng và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu; 2) Bảo tồn đa dạng sinh học gắn với sử dụng bền vững các dịch vụ hệ sinh thái và đa dạng sinh học góp phần giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân; 3) Bảo tồn đa dạng sinh học là trách nhiệm của toàn xã hội, của các cơ quan quản lý, mọi tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân; 4) Đẩy mạnh xã hội hóa và tăng cường hợp tác quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học; 5) Tăng cường thể chế và thống nhất, nâng cao hiệu quả quản lý đa dạng sinh học từ Trung ương đến địa phương; ưu tiên đầu tư bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi các hệ sinh thái; thực hiện tiếp cận quản lý tổng hợp hệ sinh thái và bảo vệ tính toàn vẹn của hệ sinh thái từ đất liền ra biển.

Trong giai đoạn tới, một số định hướng cụ thể về công tác bảo tồn đa dạng sinh học được đề xuất bao gồm: củng cố, mở rộng diện tích và quản lý hiệu quả hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên và hành lang đa dạng sinh học và các khu vực được công nhận danh hiệu quốc tế; tăng cường phục hồi và cải thiện chất lượng các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng bị suy thoái, bảo tồn các khu vực đa dạng sinh học cao ngoài khu bảo tồn thiên nhiên; Nâng cao hiệu quả bảo tồn các loài hoang dã, đặc biệt các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, loài di cư; duy trì bảo tồn và phát triển nguồn gen; Sử dụng bền vững đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái; Kiểm soát các hoạt động gây tác động xấu đến đa dạng sinh học; nâng cao hiệu quả  quản lý tiếp cận nguồn gen, chia sẻ lợi ích và bảo vệ nguồn gen, tri thức truyền thống về nguồn gen; Bảo tồn đa dạng sinh học nông nghiệp, đô thị;  bảo tồn đa dạng sinh học thích ứng với biến đổi khí hậu.

Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang phối hợp với các Bộ, ngành, các tổ chức có liên quan xây dựng dự thảo Chiến lược 2030 để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong quý 4 năm 2021.

 

    — Bài báo đăng trên Tạp chí TN&MT: Kỳ 2 – Tháng 8/2021–

Chia sẻ