Đối thoại về việc sử dụng bền vững tài nguyên di truyền và chia sẻ kinh nghiệm thực hiện quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích

Đối thoại về việc sử dụng bền vững tài nguyên di truyền và chia sẻ kinh nghiệm thực hiện quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích

Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Nghị định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ công bằng, hợp lý lợi ích có được từ nguồn gen trong khuôn khổ Công ước Đa dạng sinh học từ năm 2014. Sau khi gia nhập Nghị định thư Nagoya, Bộ Tài nguyên và Môi trường với vai trò là cơ quan đầu mối quốc gia thực hiện Nghị định thư này đã chủ trì phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan triển khai thực hiện các nội dung có liên quan trong lĩnh vực tiếp cận nguồn gen. Trong hai năm qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng và báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hai văn bản quan trọng trong lĩnh vực này, cụ thể là: Quyết định số 1141/QĐ-TTg ngày 27/6/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tăng cường năng lực về quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ công bằng hợp lý lợi ích phát sinh từ việc sử dụng nguồn gen giai đoạn 2016 – 2025 và Nghị định số 59/2017/NĐ-CP ngày 12/5/2017 của Chính phủ về quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen.

Trong khuôn khổ triển khai các hoạt động của Dự án “Xây dựng năng lực cho vệc phê chuẩn và thực hiện Nghị định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích tại Việt Nam” (Dự án ABS), ngày 31/5/2018 tại Đà Nẵng, Ban quản lý Dự án đã tổ chức “Đối thoại về việc sử dụng bền vững tài nguyên di truyền và chia sẻ kinh nghiệm thực hiện quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích”. Buổi đối thoại có sự tham gia của các tổ chức quốc tế có liên quan trong lĩnh vực này: đại diện Ban thư ký Công ước Đa dạng sinh học (SCBD), Tổ chức Phát triển Luật quốc tế (IDLO), Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), đại diện một số quốc gia trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương: Costa Rica; Bahrain; Bhutan; Trung Quốc; Ấn Độ; Indonesia; Iran; Jordan; Lào; Nepal; Myanmar; Pakistan; Philippine; Canada… Đại diện Việt Nam có sự tham dự của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; các nhà khoa học; doanh nghiệp; Ban quản lý Vườn quốc gia, khu bảo tồn và các chuyên gia.

Tại buổi đối thoại, các chuyên gia quốc tế đã trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm về tình hình xây dựng các biện pháp quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích (ABS) và việc thực hiện Nghị định thư Nagoya. Theo đánh giá của các chuyên gia, cùng với Brazin, Dominica, Tây Ban Nha… Việt Nam là một trong những quốc gia tiên phong xây dựng khung pháp lý về ABS tuân thủ Nghị định thư Nagoya. Hiện nay, các cơ chế ABS ngày càng phù hợp với nhu cầu trong các lĩnh vực khác nhau, xu hướng chung là tạo cơ chế đơn giản hay miễn trừ cho nghiên cứu, đặc biệt là những nghiên cứu đóng góp cho bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học, khuyến khích quan hệ đối tác nghiên cứu trong và ngoài nước, chuyển giao công nghệ, cũng như tạo điều kiện cho việc tiếp cận và đàm phán chia sẻ lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen.

Trao đổi tại buổi đối thoại, bà Hoàng Thị Thanh Nhàn – Phó Cục trưởng Cục Bảo tồn đa dạng sinh học (Tổng cục Môi trường) cho biết: “Tính đến thời điểm hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành 10 Quyết định cho phép đưa nguồn gen ra nước ngoài phục vụ nghiên cứu không vì mục đích thương mại. Tuy nhiên, Việt Nam đang trong giai đoạn bắt đầu triển khai thực hiện nên không tránh khỏi một số khó khăn và thách thức, vì vậy Việt Nam rất mong nhận được những chia sẻ kinh nghiệm đến từ các chuyên gia quốc tế để việc thực hiện ABS được thuận lợi”.

Phát biểu tại đây, bà Nguyễn Giang Thu, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết: “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan nhà nước có thẩm quyển cấp phép ABS theo quy định tại Nghị định số 59/2017/NĐ-CP. Thời gian qua, Bộ đã tiếp nhận 5 hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép tiếp cận nguồn gen, trong đó 3 hồ sơ có mục đích phi thương mại và 2 hồ sơ có mục đích thương mại. Tuy nhiên, thực tế, ABS là một vấn đề mới nên quá trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, vì vậy, trong thời gian tới, cơ quan đầu mối quốc gia và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tăng cường phối hợp để triển khai có hiệu quả Nghị định 59/2017/NĐ-CP vào thực tiễn”.

Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn phát biểu tại buổi Hội thảo

Cùng ý kiến với bà Nguyễn Giang Thu, đại diện cho các cơ quan nghiên cứu, Ông Nguyễn Văn Sinh – Viện trưởng Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho biết: “Tài nguyên sinh vật là tài nguyên hữu hạn, nhưng có thể phục hồi và phát triển. Nhận thức được giá trị của tài nguyên và đưa ra khung pháp lý để bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên là vô cùng cần thiết. Nghị định 59/2017/NĐ-CP được ban hành như một khung pháp lý để các bên (bên có tài nguyên và bên sử dụng tài nguyên) phối hợp cùng nhau, góp phần vào bảo tồn đa dạng sinh học. Tuy nhiên, khi có các quy định mới thì bao giờ cũng sẽ gặp khó khăn khi áp dụng, vì vậy cần có sự hướng dẫn cụ thể từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để việc thực thi các quy định được thuận lợi”.

Ông Nguyễn Văn Sinh – Viện trưởng Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật phát biểu tại Tọa đàm

Ông Tạ Minh Sơn – Giám đốc BIG Việt Nam, giới thiệu các nội dung về thương mại sinh học (BioTrade) và các nguyên tắc về chia sẻ lợi ích và sử dụng bền vững nguồn gen. Theo ông cho biết: “Đối với nhóm đối tượng doanh nghiệp, họ quan tâm đến việc khi áp dụng các quy định về ABS thì lợi thế của họ so với doanh nghiệp khác là gì? Cần áp dụng các chế tài về việc tuân thủ các quy định này, để có sự công bằng giữa doanh nghiệp tuân thủ và doanh nghiệp không tuân thủ”.

Phát biểu bế mạc buổi đối thoại, Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn – Phó Cục trưởng Cục Bảo tồn đa dạng sinh học ghi nhận những câu hỏi và kinh nghiệm được từ các chuyên gia, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Trong quá trình thực hiện Nghị định 59/2017/NĐ-CP, Việt Nam đã có sự tham khảo mô hình của các quốc gia như Ấn Độ, trong thời gian tới, Việt Nam rất mong có thêm nhiều sự quan tâm đóng góp ý kiến của các cơ quan, các doanh nghiệp và các chuyên gia trong nước và quốc tế để việc triển khai được phù hợp với thực tế.

Toàn cảnh Tọa đàm

Chia sẻ